Hỏi về việc vi phạm hành lang an toàn giao thông

12/06/2012 14:0 GMT+7

Hỏi về việc vi phạm hành lang an toàn giao thông

Hỏi: (Dương Văn Phương - phuongcn3@gmail.com)

Gia đình tôi hiện đang sử dụng một mảnh đất tại tuyến đường liên thôn từ nghĩa trang xã Minh Trí đi UBND xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội. Năm 2011 gia đình tôi có xây lại cổng đi, sau khi xây, UBND xã Minh trí có quyết định cưỡng chế vi phạm hành lang giao thông, nhưng gia đình tôi không chấp nhận với lý do:Vị trí cổng gia đình tôi so với nhiều hộ gia đình khác thì đang nằm sâu hơn từ 1 đến 3 mét. Trong khi đó các hộ gia đình khác không có quyết định cưỡng chế vi phạm hành lang giao thông; đến ngày 11/5/2012 (sau khoảng hơn 1 năm) UBND xã Minh Trí đã cưỡng chế phá dỡ vị trí cổng của gia đình tôi. Vậy tôi hỏi:

- Đối với tuyến đường liên thôn như tuyến đường qua cổng gia đình tôi nói trên hành lang giao thông là bao nhiêu mét? theo văn bản pháp luật nào.

- Tại sao gia đình tôi bị cưỡng chế mà các gia đình khác trên thực tế có vi phạm hành lang nhiều hơn gia đình tôi lại không bị cưỡng chế? UBND xã Minh Trí thực hiện như vậy có đúng pháp luật không?Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trả lời: Vụ Kết cấu hạ tầng giao thông - Bộ Giao thông vận tải trả lời như sau:

1. Giới hạn hành lang an toàn đường bộ được qui định tại Điều 15, Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 của Chính phủ qui định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ qui định: “Hành lang an toàn đường bộ là phần đất dọc hai bên đất của đường bộ nhằm bảo đảm an toàn giao thông và bảo vệ công trình đường bộ. Giới hạn hành lang an toàn đường bộ được quy định như sau:

Đối với đường ngoài đô thị: căn cứ cấp kỹ thuật của đường theo quy hoạch, phạm vi hành lang an toàn của đường có bề rộng tính từ đất của đường bộ trở ra hai bên là:

a. 47 mét đối với đường cao tốc;

b. 17 mét đối với đường cấp I, cấp II;

c. 13 mét đối với đường cấp III;

d. 09 mét đối với đường cấp IV, cấp V;

đ. 04 mét đối với đường có cấp thấp hơn cấp V”.

2. Trách nhiệm của UBND cấp xã qui định tại Điều 42 Nghị định Nghị định số 11/2010/NĐ-CP: “...Quản lý việc sử dụng đất trong và ngoài hành lang an toàn đường bộ theo quy định của pháp luật; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp lấn, chiếm, sử dụng trái phép hành lang an toàn đường bộ...”

3. Về khai thác sử dụng trong phạm vi đất hành lang an toàn đường bộ, tại khoản 9 Điều 28 Nghị định Nghị định số 11/2010/NĐ-CP qui định: “Trường hợp công trình trên đất hành lang an toàn đường bộ có trước khi quy định về quản lý hành lang an toàn đường bộ có hiệu lực, đúng với mục đích sử dụng trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của cơ quan có thẩm quyền cấp, không ảnh hưởng đến an toàn giao thông thì được tiếp tục sử dụng.”

Về xác định mốc thời gian đối với công trình tồn tại trong phạm vi đất giành cho đường bộ theo qui định tại Điều 43 Nghị định Nghị định số 11/2010/NĐ-CP:

“1. Trước ngày 21 tháng 12 năm 1982: thời điểm chưa có quy định về công trình tồn tại trong phạm vi đất dành cho đường bộ.

2. Từ ngày 21 tháng 12 năm 1982 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2000: thời điểm áp dụng Nghị định số 203/HĐBT ngày 21 tháng 12 năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng về Điều lệ bảo vệ đường bộ.

3. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2000 đến trước ngày 30 tháng 11 năm 2004: thời điểm áp dụng Nghị định số 172/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ công trình giao thông đối với công trình giao thông đường bộ.

4. Từ ngày 30 tháng 11 năm 2004 đến trước ngày Nghị định này có hiệu lực: thời điểm áp dụng Nghị định số 186/2004/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.”

Địa chỉ cơ quan trả lời: 80 Trần Hưng Đạo – Hà Nội.

Địa chỉ email: ketcauhatang@mt.gov.vn

Điện thoại: 04.39412153